Chiến tranh Việt Nam và dòng chảy nhạc đỏ-nhạc vàng

Ban nhạc Phượng Hoàng, một nhóm nhạc rock nổi tiếng ở Sài Gòn trước 1975

Nguồn hình ảnh, Elvis Phương

Chụp lại hình ảnh, Ban nhạc Phượng Hoàng, một nhóm nhạc rock nổi tiếng ở Sài Gòn trước 1975
Thời gian đọc: 9 phút

Cứ mỗi dịp 30/4, xen lẫn giữa những giai điệu nhạc cách mạng là các ca khúc bolero như một cuộc cạnh tranh giữa dòng nhạc đỏ và vàng.

Hơn 50 năm kể từ khi cuộc chiến chia cách hai miền Nam - Bắc Việt Nam kết thúc, chủ đề về văn nghệ hai miền vẫn được quan tâm và bàn luận.

Trước năm 1975, dòng chảy văn nghệ Việt Nam bị chia cắt bởi lằn ranh chính trị, tạo nên hai bức tranh văn hóa với những sắc thái riêng biệt.

Văn nghệ miền Bắc mang đậm tính chất cách mạng, trong khi văn nghệ miền Nam đủ các sắc màu, từ nhạc vàng bolero, phản chiến, kích động.

Một năm trước, khi những người Việt trẻ tỏ ra hào hứng với sự kiện A50 – cuộc diễu binh kỷ niệm 50 năm ngày 30/4 ở TP HCM, một hội nghị được tổ chức tại thành phố Lubbock, bang Texas (Mỹ), trong đó sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật trước và sau 1975 cũng là đề tài của nhiều bài nói chuyện.

Nhà nghiên cứu Jason Nguyễn từ Đại học Cerritos đã so sánh âm nhạc miền Nam trước và sau năm 1975, còn nhà nghiên cứu Phú Vũ từ trường St. Peter Claver phân tích âm nhạc hai miền.

Âm nhạc hai bờ chiến tuyến thời kỳ này cũng được công chúng gọi là nhạc đỏ (miền Bắc) và nhạc vàng (miền Nam).

Nhạc vàng (hoàng sắc âm nhạc) là một thuật ngữ mà giới trí thức cánh tả Trung Quốc dùng để gọi những tình khúc Thượng Hải thời những năm 1930, theo nhà nghiên cứu âm nhạc Jason Gibbs.

Nhưng dòng âm nhạc này đã bị những người cộng sản Trung Hoa triệt tiêu sau khi giành chính quyền vào năm 1949, coi thể loại đó là một tàn dư của tư sản phương Tây, theo bài viết của hai nhà nghiên cứu Hansson và Jones vào năm 2001.

Những người Việt Minh kháng chiến, dưới sự hậu thuẫn của Bắc Kinh, và sự cố vấn của các chuyên gia Trung Quốc, cũng đã xây dựng một cuộc "chỉnh đốn" về văn hóa, tư tưởng.

Văn học nghệ thuật được xem như một vũ khí tư tưởng, phục vụ cho cuộc "kháng chiến chống Mỹ, cứu nước", ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần yêu nước. Các bài hát có giai điệu và lời ca buồn thường bị hạn chế, cấm tiệt, bao gồm cả những bài hát "rất đỏ" như Lời người ra đi của Trần Hoàn.

Sự kiện Điện Biên Phủ tháng 5/1954 đã dẫn đến hiệp định Geneve, và Việt Nam chia thành hai miền, lấy Vĩ tuyến 17 làm giới tuyến.

Âm nhạc ngoài Vĩ tuyến 17 lúc bấy giờ mang đậm tính tuyên truyền, phục vụ nhiệm vụ chính trị. Những bài hát như Tiến về Sài Gòn (Lưu Hữu Phước), Giải phóng miền Nam (Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ và Lưu Hữu Phước), Hành khúc ngày và đêm (thơ Bùi Công Minh, nhạc Phan Huỳnh Điểu)... trở nên phổ biến rộng rãi trong thời kỳ này.

Chủ đề xuyên suốt dễ dàng nhận thấy là lời cổ động, khuyến khích thanh niên tham gia phong trào "kháng chiến".

Đã không còn chỗ cho các ca khúc lãng mạn của dòng nhạc tiền chiến trước 1975 ở miền Bắc.

Dòng nhạc trữ tình, lãng mạn đó đã tìm đến, và được nuôi dưỡng trong không gian của miền Nam, lúc này đã hình thành một chế độ chính trị mới: nền cộng hòa.

Người Pháp rút đi, và người Mỹ đến.

Bất chấp chiến sự ác liệt, các thể loại âm nhạc ở miền Nam vẫn đua nhau nảy nở.

Dễ nhận thấy, nhạc vàng với các ca từ và âm điệu lãng mạn ở miền Nam rất khác với âm hưởng đầy khí thế cách mạng của miền Bắc.

Những tình khúc bolero được sáng tác với đủ hình tượng, từ anh lính chiến xa nhà đến cô gái nhỏ hậu phương, với những giai điệu điệu buồn man mác, gợi lên sự cô đơn nơi chiến tuyến, của chiến tranh, của mất mát, đau thường, sinh ly tử biệt.

Những rung cảm lãng mạn, những mối tình dang dở mang đến sự day dứt trong tâm hồn người lính. Thậm chí, một số ca khúc còn hé lộ sự mệt mỏi, chán chường và những hoài nghi về cuộc chiến.

Những nhạc phẩm như Xuân này con không về (Trịnh Lâm Ngân), Trăng tàn trên hè phố (Phạm Thế Mỹ), Anh không chết đâu em (Trần Thiện Thanh) hay Kỷ vật cho em (thơ Linh Phương, nhạc Phạm Duy) thể hiện rõ các tâm tình trên.

Sự khác biệt đến từ đâu

Một nhóm nghệ sĩ Bắc Việt vào tháng 4/1968

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh, Một nhóm nghệ sĩ Bắc Việt vào tháng 4/1968

Chiến tranh Việt Nam không chỉ là một cuộc đối đầu quân sự mà còn là sự phân chia sâu sắc về chính trị, xã hội và văn hóa giữa hai miền Nam và Bắc. Sự phân chia này đã tạo ra những hệ quả rõ rệt trong đời sống tinh thần, đặc biệt là âm nhạc.

Bối cảnh chính trị và hệ tư tưởng có thể được xem như yếu tố chủ đạo chi phối văn nghệ của hai bên vĩ tuyến.

Nằm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, miền Bắc xây dựng một hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa với mục tiêu thống nhất đất nước dưới chế độ cộng sản. Văn hóa nghệ thuật được xem là một công cụ của cách mạng, nhắm đến mục tiêu chính trị và tuyên truyền.

Nghệ thuật chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước và được định hướng theo mục tiêu chính trị. Sự sáng tạo được khuyến khích trong khuôn khổ phục vụ cách mạng.

Một ví dụ điển hình chính là sự dập tắt phong trào Nhân văn - Giai phẩm (1955-1958), với những tên tuổi lớn như Phan Khôi, Trần Dần, Văn Cao, Hoàng Cầm, Hữu Loan... bị xử lý với nhiều hình thức khác nhau.

Phong trào này công khai tuyên bố mục đích của mình là đấu tranh cho quyền tự do biểu đạt chính kiến, tự do sáng tạo của giới nghệ sĩ. Thế nhưng, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại nhận định rằng phong trào này đã mượn danh sáng tác văn nghệ để thực hiện hành vi tuyên truyền chống lại nhà nước.

Theo Tiến sĩ Zachary Abuza trong cuốn sách Renovating Politics in Contemporary Vietnam, Nhà nước cho rằng Nhân văn-Giai phẩm bắt nguồn từ một nhóm trí thức đã bị tình báo nước ngoài bí mật cài vào miền Bắc với mục đích lôi kéo người khác, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ, bác bỏ quyền lãnh đạo chính trị duy nhất của Đảng Lao động Việt Nam, và gây tổn hại đến sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.

"Đối với người cộng sản, cá nhân phải đồng dạng với tập thể, cá nhân phải nghĩ đến tập thể, điều tốt đẹp dành cho tập thể, và nghĩ rằng những gì chính quyền đề ra là những điều đúng đắn đáng tin tưởng," nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam Jason Gibbs viết vào năm 2005.

Bên kia chiến tuyến, miền Nam Việt Nam theo đuổi một hệ thống chính trị cộng hòa, với nền tảng là tự do. Mặc dù tinh thần dân tộc vẫn mạnh mẽ và tình trạng chiến tranh cũng ảnh hưởng đến không gian tự do, nhưng hệ tư tưởng có sự đa dạng hơn, chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây.

Âm nhạc miền Nam, do đó, có không gian phát triển tự do hơn, phản ánh nhiều khía cạnh của đời sống xã hội, từ tình yêu đôi lứa, nỗi nhớ quê hương đến những suy tư về chiến tranh và thân phận con người.

Đời sống ở các đô thị miền Nam có phần sung túc hơn. Sự phân tầng xã hội rõ rệt hơn. Âm nhạc phản ánh sự đa dạng của đời sống này, từ những bản tình ca lãng mạn đến những ca khúc mang hơi thở thời đại và cả những tiếng nói phê phán xã hội.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh, trong bài viết Nhạc vàng qua lửa đỏ đăng tải năm 2016, nhận định sự phát triển công nghệ rầm rộ trong thế kỷ 20 đã tác động mạnh mẽ đến âm nhạc miền Nam, đặc biệt qua hệ thống phát thanh và in ấn.

Sự đa dạng của văn nghệ miền Nam còn đến từ các tên tuổi lớn của miền Bắc di cư vào Nam như Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Văn Phụng, Anh Bằng, Hoàng Trọng...

"Đời sống âm nhạc phát triển nhanh. Mặc dù lúc đó thị trường văn hóa tràn ngập các sản phẩm của Anh, Mỹ, Pháp... thế nhưng âm nhạc Việt chưa bao giờ mất vị thế của mình. Những chương trình nhạc trẻ hay đại hội âm nhạc, bao giờ nhạc Việt cũng có một chỗ đứng đặc biệt, nhất là khi phong trào Việt hóa nhạc mới do Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang khởi xướng. Chính vì vậy mà thu nhập của giới âm nhạc (bao gồm cả cải lương, hát bội, ban nhạc trẻ...) nói chung rất dễ chịu," nhạc sĩ Tuấn Khanh viết.

Nhạc vàng là âm nhạc đại chúng – âm nhạc của sự trỗi dậy những tâm trạng băn khoăn bất an của tuổi trẻ, ông Gibbs viết.

Bài viết của Gibbs chỉ ra những nhạc sĩ cách mạng miền Bắc như Đỗ Nhuận và Lê Lôi đã gán cho nhiều nhạc phẩm miền Nam những nhãn như "ủy mị", "đồi trụy" và "dâm ô".

Sau năm 1975, văn nghệ miền Nam đối mặt với sự quản lý cộng sản. Nhiều nghệ sĩ từng hát nhạc vàng, nhạc lính, nhạc tình ngày trước như Duy Khánh, Thanh Tuyền, Lệ Thu,... trong thời gian còn ở Việt Nam phải hát những bài hát mà có lẽ xa lạ với họ, như Tiếng chày trên sóc Bom Bo, Tự nguyện, Trường Sơn Đông-Trường Sơn Tây...

Một chiến dịch tuyên truyền bài trừ "văn hóa phản động, đồi trụy" vào tháng 5/1975 tại Sài Gòn

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh, Một chiến dịch tuyên truyền bài trừ "văn hóa phản động, đồi trụy", trong đó có kêu gọi "không nghe các loại nhạc nhảm nhí" vào tháng 5/1975 tại Sài Gòn

Trong không khí hừng hực những ngày hậu "giải phóng Sài Gòn", một làn sóng bài trừ "văn hóa phẩm đồi trụy" diễn ra rầm rộ, với phong trào đốt sách, cấm nhạc, bắt nghệ sĩ đi cải tạo. Có nhạc sĩ, văn nghệ sĩ đã chết trong lao cải, như trường hợp của nhạc sĩ Minh Kỳ. Những người khác thì chịu cảnh đói khổ, cơ cực: Nguyễn Trung Cang của ban Phượng Hoàng chết trong nghèo đói, nhạc sĩ Trúc Phương nổi tiếng với những bài nhạc lính cũng sống trong nghèo khổ cho tới cuối đời. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó, nhiều người đã ngưng hẳn sáng tác, hoặc ngưng trong một thời gian dài.

Tuy nhiên, nhạc vàng miền Nam vẫn sống âm thầm nhưng rất mãnh liệt trong đời sống dân gian.

Ở giai đoạn này, văn nghệ miền Nam còn có thêm chủ đề về người Việt lưu vong ở hải ngoại với các tác phẩm tiêu biểu như Em còn nhớ mùa xuân (Ngô Thụy Miên), Sài Gòn niềm nhớ không tên (Nguyễn Đình Toàn), Đêm nhớ về Sài Gòn (Trầm Tử Thiêng), Đêm chôn dầu vượt biển (Châu Đình An), Một lần miên viễn xót xa (Nguyễn Đức Thành), ...

Trong thời gian gần đây, tuy chính quyền cộng sản dần cởi mở hơn về văn hóa, văn nghệ nhưng nhìn chung, không ít bài hát của miền Nam liên quan đến cuộc chiến vẫn bị cấm trình diễn.

Cách đây không lâu, vào năm 2022, Công ty TNHH Mây Lang Thang đã bị chính quyền phạt vì để nữ danh ca Khánh Ly hát ca khúc Gia tài của mẹ – bài hát có câu "Hai mươi năm nội chiến từng ngày" – của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.